
| Ngày ban hành: 17/12/2014 | Số/Ký hiệu: 95 /CĐGD-TG |
| Ngày hiệu lực: 19/12/2014 | Người ký: Trần Thị Diệp |
| Trích yếu: Tuyên truyền kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 – 22/12/2014) | |
|
LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
QUẬN THỦ ĐỨC CÔNG ĐOÀN GIÁO DỤC |
|
|
Số:
95 /CĐGD-TG Về
việc Tuyên truyền kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 – 22/12/2014) |
Thủ Đức, ngày 16 tháng 12
năm 2014 |
|
Kính gửi: |
Hiệu
trưởng và Chủ tịch Công đoàn cơ sở các trường Mầm non, Tiểu học, THCS và đơn
vị trực thuộc. |
Thực hiện Hướng dẫn số 337/HD-CĐGD ngày
10 tháng 12 năm 2014 của Công đoàn Giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh về Hướng dẫn
Tuyên truyền kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam
(22/12/1944 – 22/12/2014) và 25 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1989 –
22/12/2014), Công đoàn Giáo dục quận Thủ Đức triển khai đến các đơn vị như sau:
1) VỀ NỘI DUNG TUYÊN TRUYỀN:
1.1)
Tuyên truyền theo tài liệu của Ban tuyên giáo Thành Ủy (đính kèm), nhấn
mạnh quá trình xây dựng và trưởng thành, truyền thống chiến đấu và chiến thắng
của Quân đội nhân dân Việt Nam trong 70 năm qua, gắn với lịch sử truyền thống
đấu tranh cách mạng vẻ vang của dân tộc, của Đảng Cộng sản Việt Nam; khẳng định
vai trò của quân đội nhân dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và xây
dựng nền quốc phòng toàn dân.
1.2)
Tuyên truyền sự nỗ lực của quân đội trong tham mưu và là vai trò nòng
cốt trong hoạt động quốc phòng của đất nước, xây dựng nền quốc phòng toàn dân
vững mạnh, gắn với an ninh nhân dân, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống
phá nước ta của các thế lực thù địch, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn,
thống nhất lãnh thổ của Tổ quốc; những bài học kinh nghiệm và trách nhiệm của
cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trong việc thực
hiện Ngày hội Quốc phòng toàn dân.
1.3)
Tuyên truyền, phản ánh các hoạt động kỷ niệm, các phong trào thi đua
lập thành tích chào mừng 70 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 25
năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân của các cơ quan, đơn vị; chú trọng tuyên truyền
các phong trào thi đua, hoạt động đền ơn đáp nghĩa, thăm hỏi, chăm sóc các gia
đình chính sách, người và gia đình có công, …
2) VỀ CÁCH TỔ CHỨC, THỰC HIỆN:
Căn cứ nội dung đã nêu trên, Công đoàn cơ sở các trường MN (CL, ngoài CL), Tiểu học, THCS và
đơn vị trực thuộc tổ chức kịp thời các
hoạt động tuyên truyền với hình thức đa dạng, phù hợp với đặc điểm, tình hình
của đơn vị mình nhằm thu hút đông đảo cán bộ, đoàn viên, CB-GV-NV&NLĐ tham gia. Gợi ý một số
hình thức: triển lãm hình ảnh, panô,
băng rôn, hệ thống loa phát thanh nội bộ, tổ chức nghe nói chuyện chuyên đề,
gặp gỡ các nhân chứng lịch sử, họp mặt CB-GV-NV&NLĐ gốc bộ đội, tham quan các
Bảo tàng – các Khu Di tích lịch sử ...
Tùy điều kiện, các hoạt động tuyên
truyền nên gắn với các hoạt động văn hóa, nghệ thuật phục vụ đông đảo CB-GV-NV&NLĐ
với phương châm “hiệu quả, thiết thực,
tiết kiệm”; khuyến khích tính chủ động, sáng tạo đối với công tác tuyên
truyền, kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 25 năm Ngày
hội Quốc phòng toàn dân.
3)
MỘT SỐ KHẨU HIỆU TUYÊN TRUYỀN:
Công đoàn cơ sở có thể chọn một trong các khẩu hiệu đây để thực
hiện việc treo băng rôn tại đơn vị:
1- Nhiệt liệt chào mừng kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 –
22/12/2014) và 25 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1989 – 22/12/2014).
2- Ra sức củng cố, hoàn thiện thế trận quốc phòng toàn dân và an
ninh nhân dân, giữ vững hòa bình, ổn định và phát triển.
3- Tất cả vì sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa.
4- Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm!
5- Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam muôn năm!
6- Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng
ta.
Trên đây là hướng dẫn công tác tuyên truyền kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Quân đội nhân
dân Việt Nam và 25 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân, Công đoàn Giáo dục đề nghị
các công đoàn cơ sở nghiên cứu, triển khai thực hiện./.
|
Nơi nhận: - BTV LĐLĐ (để b/c); - Chi bộ PGD (để b/c); - Lãnh đạo PGD (để phối
hợp) - Lưu VT, TG.
|
TM.
BAN THƯỜNG VỤ CHỦ
TỊCH
(đã ký)
Trần
Thị Diệp |
ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN
KỶ
NIỆM
70
NĂM NGÀY THÀNH LẬP QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM (22/12/1944 – 22/12/2014)
VÀ
25 NĂM NGÀY HỘI QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN (22/12/1989 – 22/12/2014)
I. QUÂN ĐỘI
NHÂN DÂN VIỆT NAM - 70 NĂM XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN, CHIẾN ĐẤU VÀ CHIẾN THẮNG
Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội kiểu mới, quân đội của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, là lực lượng nòng cốt của lực lượng vũ
trang nhân dân Việt Nam, được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ
chức, giáo dục và rèn luyện. Trải qua 70 năm xây dựng, phát triển, chiến đấu và
chiến thắng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự đùm bọc và nuôi
dưỡng của nhân dân, sự đoàn kết, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, kế thừa và phát
huy truyền thống quân sự của dân tộc, vừa chiến đấu vừa xây dựng, Quân đội nhân
dân Việt Nam ngày càng phát triển và trưởng thành.
1. Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời và cùng toàn dân tộc tiến
hành cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công
Trong Chính cương vắn tắt (tháng 2/1930), Luận cương Chính trị
(tháng 10/1930), Đảng ta đã khẳng định con đường giải phóng giai cấp, giải
phóng dân tộc phải tổ chức ra quân đội công nông để giành chính quyền và giữ
chính quyền. Vì vậy, ngay sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, các tổ chức vũ
trang lần lượt được hình thành là Đội tự vệ đỏ (xích đỏ) trong phong trào cách
mạng 1930-1931, mà đỉnh cao là Xô Viết-Nghệ Tĩnh. Những năm 1940-1945, hàng
loạt tổ chức vũ trang được thành lập như: Đội du kích Bắc Sơn (Lạng Sơn), du
kích Nam Kỳ, đội du kích Ba Tơ (Trung Kỳ), đội Du kích Pắc Bó (Cao Bằng), Cứu
Quốc quân. Sự phát triển mạnh mẽ, rộng khắp và trưởng thành của phong trào đấu
tranh cách mạng đòi hỏi cách mạng Việt Nam lúc này phải có một đội quân chủ lực
thống nhất về mặt tổ chức để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng giải
phóng dân tộc.
Đứng trước những yêu cầu thực tiễn
của cách mạng, tháng 12/1944, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã ra Chỉ thị thành lập Đội
Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân và giao cho đồng chí Võ Nguyên Giáp phụ
trách. Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 22/12/1944, tại khu rừng giữa tổng
Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo thuộc châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng (nay là
xóm Nà Sang, xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng), Đội Việt Nam Tuyên
truyền Giải phóng quân được thành lập gồm 34 chiến sĩ, biên chế thành 3 tiểu
đội. Đồng chí Hoàng Sâm được cử làm Đội trưởng. Đồng chí Xích Thắng (Dương Mạc
Thạch) làm Chính trị viên. Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân có chi bộ
Đảng lãnh đạo.
Thực hiện chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh: “Trong một tháng phải
có hoạt động. Trận đầu nhất định phải thắng lợi”, 17 giờ ngày 25/12/1944 (ngay
sau ngày thành lập), Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã mưu trí, táo
bạo, bất ngờ đột nhập vào đồn Phai Khắt (đóng tại tổng Kim Mã, châu Nguyên
Bình, nay thuộc xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng); 7giờ sáng ngày
26/12/1944 lại đột nhập đồn Nà Ngần (đóng tại xã Cẩm Lý, châu Nguyên Bình, nay
thuộc xã Hoa Thám, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng), giết chết hai tên đồn
trưởng, bắt sống toàn bộ binh lính địch và thu tất cả vũ khí, quân trang, quân
dụng. Chiến thắng Phai Khắt, Nà Ngần đã mở đầu cho truyền thống đánh chắc thắng,
đánh thắng trận đầu của quân đội ta.
Tháng 3/1945, Thường vụ Trung ương
Đảng họp mở rộng và ra Chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”.
Tháng 4/1945, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị Quân sự cách mạng Bắc Kỳ,
quyết định thống nhất các lực lượng vũ trang cả nước (Việt Nam Tuyên truyền
Giải phóng quân, Cứu Quốc quân và các tổ chức vũ trang khác...) thành Việt Nam
Giải phóng quân; đẩy mạnh tuyên truyền xung phong có vũ trang phá kho thóc của
Nhật để cứu đói cho nhân dân; xây dựng các đội tự vệ vũ trang, du kích cứu
quốc; phát động chiến tranh du kích, giải phóng từng vùng, mở rộng căn cứ địa
cách mạng. Từ tháng 4/1945, cao trào kháng Nhật cứu nước, phong trào vũ trang
khởi nghĩa, khởi nghĩa từng phần đã giành thắng lợi ở nhiều nơi. Ngày
15/5/1945, sau buổi lễ thống nhất tại Định Biên Thượng, Định Hóa, Thái Nguyên,
đồng chí Võ Nguyên Giáp trở thành Tư lệnh các lực lượng vũ trang thống nhất,
mang tên Việt Nam Giải phóng quân.
Trên cơ sở đánh giá thời cơ và tình hình cách mạng trong nước, dưới
sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng vũ trang cùng các tầng lớp nhân dân đồng loạt
đứng dậy tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền. Chỉ trong vòng 15 ngày cuối
tháng 8/1945, cuộc Tổng khởi nghĩa của nhân dân ta đã giành thắng lợi hoàn
toàn.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Việt Nam Giải phóng
quân được đổi tên thành Vệ Quốc quân. Năm 1946, Vệ Quốc quân đổi tên thành Quân
đội Quốc gia Việt Nam. Năm 1950, đổi tên thành Quân đội nhân dân Việt
Nam.
Ngày 22/12/1944, ngày thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải
phóng quân - Đội quân chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam được lấy
làm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam.
2. Quân đội nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp xâm lược (1945 - 1954)
a. Tham gia xây dựng, bảo vệ chính quyền nhân dân trong những
năm đầu cách mạng và tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
(1945 -1946)
Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
đứng trước một tình thế rất phức tạp và chồng chất khó khăn. Cùng một lúc chúng
ta phải đối phó với cả “giặc đói”, “giặc dốt”, “giặc ngoại xâm”. Ở Nam Bộ, ngày
23 tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp được quân Anh và quân Nhật giúp sức đã trắng
trợn gây hấn ở Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai. Tại
Bắc Bộ và Trung Bộ, từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 10/1945, gần 20 vạn quân
Tưởng Giới Thạch đã chiếm đóng hầu hết các thành phố từ vĩ tuyến 16 trở
ra.
Vừa xây dựng, vừa chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, Vệ Quốc quân
và lực lượng tự vệ đã anh dũng trong đấu tranh vũ trang, vững vàng trong đấu
tranh chính trị, thực hiện tốt nhiệm vụ chống giặc ngoài, thù trong, góp phần
bảo vệ vững chắc chính quyền nhân dân trong những năm đầu của chính quyền cách
mạng.
b. Tham gia toàn quốc kháng chiến, cùng toàn dân đánh bại chiến
lược “Đánh nhanh thắng nhanh” của thực dân Pháp xâm lược (1946-1947)
Tháng 11/1946, thực dân Pháp tăng thêm quân, đổ bộ lên Đà Nẵng,
Đồ Sơn, Cát Bà. Để thực hiện chiến lược “Đánh nhanh thắng nhanh”, sau khi nổ
súng ở Hải Phòng và Lạng Sơn (20/11/1946), chúng ráo riết chuẩn bị lực lượng
hòng đánh úp các cơ quan đầu não của ta tại thủ đô Hà Nội, tiêu diệt bộ đội Vệ
Quốc quân và Tự vệ tại các thành phố lớn, đồng thời đánh chiếm những địa bàn
chiến lược ở Trung Bộ và Bắc Bộ.
Ngày 19/12/1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Với tinh thần
“Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”, cuộc chiến đấu ở Thủ đô Hà Nội và các thành
phố, thị xã đã tiêu hao, tiêu diệt và giam chân một lực lượng lớn quân địch,
tạo điều kiện cho cả nước chuyển vào kháng chiến lâu dài.
Ngày 7/10/1947, thực dân Pháp huy động hơn 2 vạn quân tinh nhuệ
có máy bay, tàu chiến hỗ trợ, mở cuộc tiến công lớn lên Việt Bắc, hòng tiêu
diệt cơ quan lãnh đạo kháng chiến và bộ đội chủ lực của ta bằng chiến lược
“Đánh nhanh, thắng nhanh”. Thế nhưng sau hơn hai tháng chiến đấu
(7/10-20/12/1947), quân ta đã liên tiếp phản công tiêu diệt hàng nghìn tên
địch, bắn rơi 18 máy bay, bắn chìm, bắn cháy 50 tàu, ca nô, phá hủy 255 xe cơ
giới, thu hàng nghìn súng các loại, làm nên thắng lợi của chiến dịch Việt Bắc,
phá sản chiến lược “Đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp; bảo toàn và
phát triển bộ đội chủ lực, bảo vệ cơ quan đầu não và căn cứ của cả nước, đưa
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp phát triển sang thời kỳ mới.
c. Cùng toàn dân đánh bại âm mưu “bình định” và “phản công” của
địch (1948-1952)
Sau chiến dịch Việt Bắc, để đánh bại âm mưu “bình định” của
địch, ta chủ trương phát động chiến tranh du kích rộng khắp và thực hiện “đại
đội độc lập, tiểu đoàn tập trung”, vừa đẩy mạnh chiến tranh du kích, vừa học tập
tác chiến, tập trung củng cố xây dựng lực lượng và từng bước tiến lên đánh
những trận phục kích, tập kích lớn hơn, tạo tiền đề của chiến tranh chính quy
sau này. Qua hơn hai năm chiến đấu (1948-1950), quân đội ta đã tiến bộ nhiều về
phương diện tác chiến và xây dựng lực lượng. Cuối năm 1949 đầu năm 1950, trước
tình hình thế giới có nhiều chuyển biến tích cực, có lợi cho cuộc kháng chiến
của quân và dân ta, Đảng ta đã đề ra nhiệm vụ tích cực chuẩn bị lực lượng để
chuyển sang tổng phản công.
Tháng 6/1950, ta mở chiến dịch Biên Giới, tiêu diệt sinh lực
địch, giải phóng một phần biên giới Việt-Trung, mở rộng và củng cố căn cứ địa
Việt Bắc, khai thông đường liên lạc với các nước xã hội chủ nghĩa.
Vừa chiến đấu, vừa xây dựng lực lượng, quân đội ta không ngừng phát triển và ngày càng lớn mạnh, nhiều đại đoàn chủ lực được thành lập, góp phần tăng thêm sức chiến đấu của “