
| Ngày ban hành: 17/12/2014 | Số/Ký hiệu: 95 /CĐGD-TG |
| Ngày hiệu lực: 19/12/2014 | Người ký: Trần Thị Diệp |
| Trích yếu: Tuyên truyền kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 – 22/12/2014) | |
|
LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
QUẬN THỦ ĐỨC CÔNG ĐOÀN GIÁO DỤC |
|
|
Số:
95 /CĐGD-TG Về
việc Tuyên truyền kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 – 22/12/2014) |
Thủ Đức, ngày 16 tháng 12
năm 2014 |
|
Kính gửi: |
Hiệu
trưởng và Chủ tịch Công đoàn cơ sở các trường Mầm non, Tiểu học, THCS và đơn
vị trực thuộc. |
Thực hiện Hướng dẫn số 337/HD-CĐGD ngày
10 tháng 12 năm 2014 của Công đoàn Giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh về Hướng dẫn
Tuyên truyền kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam
(22/12/1944 – 22/12/2014) và 25 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1989 –
22/12/2014), Công đoàn Giáo dục quận Thủ Đức triển khai đến các đơn vị như sau:
1) VỀ NỘI DUNG TUYÊN TRUYỀN:
1.1)
Tuyên truyền theo tài liệu của Ban tuyên giáo Thành Ủy (đính kèm), nhấn
mạnh quá trình xây dựng và trưởng thành, truyền thống chiến đấu và chiến thắng
của Quân đội nhân dân Việt Nam trong 70 năm qua, gắn với lịch sử truyền thống
đấu tranh cách mạng vẻ vang của dân tộc, của Đảng Cộng sản Việt Nam; khẳng định
vai trò của quân đội nhân dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và xây
dựng nền quốc phòng toàn dân.
1.2)
Tuyên truyền sự nỗ lực của quân đội trong tham mưu và là vai trò nòng
cốt trong hoạt động quốc phòng của đất nước, xây dựng nền quốc phòng toàn dân
vững mạnh, gắn với an ninh nhân dân, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống
phá nước ta của các thế lực thù địch, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn,
thống nhất lãnh thổ của Tổ quốc; những bài học kinh nghiệm và trách nhiệm của
cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trong việc thực
hiện Ngày hội Quốc phòng toàn dân.
1.3)
Tuyên truyền, phản ánh các hoạt động kỷ niệm, các phong trào thi đua
lập thành tích chào mừng 70 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 25
năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân của các cơ quan, đơn vị; chú trọng tuyên truyền
các phong trào thi đua, hoạt động đền ơn đáp nghĩa, thăm hỏi, chăm sóc các gia
đình chính sách, người và gia đình có công, …
2) VỀ CÁCH TỔ CHỨC, THỰC HIỆN:
Căn cứ nội dung đã nêu trên, Công đoàn cơ sở các trường MN (CL, ngoài CL), Tiểu học, THCS và
đơn vị trực thuộc tổ chức kịp thời các
hoạt động tuyên truyền với hình thức đa dạng, phù hợp với đặc điểm, tình hình
của đơn vị mình nhằm thu hút đông đảo cán bộ, đoàn viên, CB-GV-NV&NLĐ tham gia. Gợi ý một số
hình thức: triển lãm hình ảnh, panô,
băng rôn, hệ thống loa phát thanh nội bộ, tổ chức nghe nói chuyện chuyên đề,
gặp gỡ các nhân chứng lịch sử, họp mặt CB-GV-NV&NLĐ gốc bộ đội, tham quan các
Bảo tàng – các Khu Di tích lịch sử ...
Tùy điều kiện, các hoạt động tuyên
truyền nên gắn với các hoạt động văn hóa, nghệ thuật phục vụ đông đảo CB-GV-NV&NLĐ
với phương châm “hiệu quả, thiết thực,
tiết kiệm”; khuyến khích tính chủ động, sáng tạo đối với công tác tuyên
truyền, kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 25 năm Ngày
hội Quốc phòng toàn dân.
3)
MỘT SỐ KHẨU HIỆU TUYÊN TRUYỀN:
Công đoàn cơ sở có thể chọn một trong các khẩu hiệu đây để thực
hiện việc treo băng rôn tại đơn vị:
1- Nhiệt liệt chào mừng kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 –
22/12/2014) và 25 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1989 – 22/12/2014).
2- Ra sức củng cố, hoàn thiện thế trận quốc phòng toàn dân và an
ninh nhân dân, giữ vững hòa bình, ổn định và phát triển.
3- Tất cả vì sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa.
4- Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm!
5- Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam muôn năm!
6- Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng
ta.
Trên đây là hướng dẫn công tác tuyên truyền kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Quân đội nhân
dân Việt Nam và 25 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân, Công đoàn Giáo dục đề nghị
các công đoàn cơ sở nghiên cứu, triển khai thực hiện./.
|
Nơi nhận: - BTV LĐLĐ (để b/c); - Chi bộ PGD (để b/c); - Lãnh đạo PGD (để phối
hợp) - Lưu VT, TG.
|
TM.
BAN THƯỜNG VỤ CHỦ
TỊCH
(đã ký)
Trần
Thị Diệp |
ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN
KỶ
NIỆM
70
NĂM NGÀY THÀNH LẬP QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM (22/12/1944 – 22/12/2014)
VÀ
25 NĂM NGÀY HỘI QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN (22/12/1989 – 22/12/2014)
I. QUÂN ĐỘI
NHÂN DÂN VIỆT NAM - 70 NĂM XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN, CHIẾN ĐẤU VÀ CHIẾN THẮNG
Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội kiểu mới, quân đội của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, là lực lượng nòng cốt của lực lượng vũ
trang nhân dân Việt Nam, được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ
chức, giáo dục và rèn luyện. Trải qua 70 năm xây dựng, phát triển, chiến đấu và
chiến thắng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự đùm bọc và nuôi
dưỡng của nhân dân, sự đoàn kết, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, kế thừa và phát
huy truyền thống quân sự của dân tộc, vừa chiến đấu vừa xây dựng, Quân đội nhân
dân Việt Nam ngày càng phát triển và trưởng thành.
1. Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời và cùng toàn dân tộc tiến
hành cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công
Trong Chính cương vắn tắt (tháng 2/1930), Luận cương Chính trị
(tháng 10/1930), Đảng ta đã khẳng định con đường giải phóng giai cấp, giải
phóng dân tộc phải tổ chức ra quân đội công nông để giành chính quyền và giữ
chính quyền. Vì vậy, ngay sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, các tổ chức vũ
trang lần lượt được hình thành là Đội tự vệ đỏ (xích đỏ) trong phong trào cách
mạng 1930-1931, mà đỉnh cao là Xô Viết-Nghệ Tĩnh. Những năm 1940-1945, hàng
loạt tổ chức vũ trang được thành lập như: Đội du kích Bắc Sơn (Lạng Sơn), du
kích Nam Kỳ, đội du kích Ba Tơ (Trung Kỳ), đội Du kích Pắc Bó (Cao Bằng), Cứu
Quốc quân. Sự phát triển mạnh mẽ, rộng khắp và trưởng thành của phong trào đấu
tranh cách mạng đòi hỏi cách mạng Việt Nam lúc này phải có một đội quân chủ lực
thống nhất về mặt tổ chức để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng giải
phóng dân tộc.
Đứng trước những yêu cầu thực tiễn
của cách mạng, tháng 12/1944, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã ra Chỉ thị thành lập Đội
Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân và giao cho đồng chí Võ Nguyên Giáp phụ
trách. Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 22/12/1944, tại khu rừng giữa tổng
Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo thuộc châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng (nay là
xóm Nà Sang, xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng), Đội Việt Nam Tuyên
truyền Giải phóng quân được thành lập gồm 34 chiến sĩ, biên chế thành 3 tiểu
đội. Đồng chí Hoàng Sâm được cử làm Đội trưởng. Đồng chí Xích Thắng (Dương Mạc
Thạch) làm Chính trị viên. Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân có chi bộ
Đảng lãnh đạo.
Thực hiện chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh: “Trong một tháng phải
có hoạt động. Trận đầu nhất định phải thắng lợi”, 17 giờ ngày 25/12/1944 (ngay
sau ngày thành lập), Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã mưu trí, táo
bạo, bất ngờ đột nhập vào đồn Phai Khắt (đóng tại tổng Kim Mã, châu Nguyên
Bình, nay thuộc xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng); 7giờ sáng ngày
26/12/1944 lại đột nhập đồn Nà Ngần (đóng tại xã Cẩm Lý, châu Nguyên Bình, nay
thuộc xã Hoa Thám, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng), giết chết hai tên đồn
trưởng, bắt sống toàn bộ binh lính địch và thu tất cả vũ khí, quân trang, quân
dụng. Chiến thắng Phai Khắt, Nà Ngần đã mở đầu cho truyền thống đánh chắc thắng,
đánh thắng trận đầu của quân đội ta.
Tháng 3/1945, Thường vụ Trung ương
Đảng họp mở rộng và ra Chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”.
Tháng 4/1945, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị Quân sự cách mạng Bắc Kỳ,
quyết định thống nhất các lực lượng vũ trang cả nước (Việt Nam Tuyên truyền
Giải phóng quân, Cứu Quốc quân và các tổ chức vũ trang khác...) thành Việt Nam
Giải phóng quân; đẩy mạnh tuyên truyền xung phong có vũ trang phá kho thóc của
Nhật để cứu đói cho nhân dân; xây dựng các đội tự vệ vũ trang, du kích cứu
quốc; phát động chiến tranh du kích, giải phóng từng vùng, mở rộng căn cứ địa
cách mạng. Từ tháng 4/1945, cao trào kháng Nhật cứu nước, phong trào vũ trang
khởi nghĩa, khởi nghĩa từng phần đã giành thắng lợi ở nhiều nơi. Ngày
15/5/1945, sau buổi lễ thống nhất tại Định Biên Thượng, Định Hóa, Thái Nguyên,
đồng chí Võ Nguyên Giáp trở thành Tư lệnh các lực lượng vũ trang thống nhất,
mang tên Việt Nam Giải phóng quân.
Trên cơ sở đánh giá thời cơ và tình hình cách mạng trong nước, dưới
sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng vũ trang cùng các tầng lớp nhân dân đồng loạt
đứng dậy tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền. Chỉ trong vòng 15 ngày cuối
tháng 8/1945, cuộc Tổng khởi nghĩa của nhân dân ta đã giành thắng lợi hoàn
toàn.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Việt Nam Giải phóng
quân được đổi tên thành Vệ Quốc quân. Năm 1946, Vệ Quốc quân đổi tên thành Quân
đội Quốc gia Việt Nam. Năm 1950, đổi tên thành Quân đội nhân dân Việt
Nam.
Ngày 22/12/1944, ngày thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải
phóng quân - Đội quân chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam được lấy
làm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam.
2. Quân đội nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp xâm lược (1945 - 1954)
a. Tham gia xây dựng, bảo vệ chính quyền nhân dân trong những
năm đầu cách mạng và tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
(1945 -1946)
Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
đứng trước một tình thế rất phức tạp và chồng chất khó khăn. Cùng một lúc chúng
ta phải đối phó với cả “giặc đói”, “giặc dốt”, “giặc ngoại xâm”. Ở Nam Bộ, ngày
23 tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp được quân Anh và quân Nhật giúp sức đã trắng
trợn gây hấn ở Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai. Tại
Bắc Bộ và Trung Bộ, từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 10/1945, gần 20 vạn quân
Tưởng Giới Thạch đã chiếm đóng hầu hết các thành phố từ vĩ tuyến 16 trở
ra.
Vừa xây dựng, vừa chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, Vệ Quốc quân
và lực lượng tự vệ đã anh dũng trong đấu tranh vũ trang, vững vàng trong đấu
tranh chính trị, thực hiện tốt nhiệm vụ chống giặc ngoài, thù trong, góp phần
bảo vệ vững chắc chính quyền nhân dân trong những năm đầu của chính quyền cách
mạng.
b. Tham gia toàn quốc kháng chiến, cùng toàn dân đánh bại chiến
lược “Đánh nhanh thắng nhanh” của thực dân Pháp xâm lược (1946-1947)
Tháng 11/1946, thực dân Pháp tăng thêm quân, đổ bộ lên Đà Nẵng,
Đồ Sơn, Cát Bà. Để thực hiện chiến lược “Đánh nhanh thắng nhanh”, sau khi nổ
súng ở Hải Phòng và Lạng Sơn (20/11/1946), chúng ráo riết chuẩn bị lực lượng
hòng đánh úp các cơ quan đầu não của ta tại thủ đô Hà Nội, tiêu diệt bộ đội Vệ
Quốc quân và Tự vệ tại các thành phố lớn, đồng thời đánh chiếm những địa bàn
chiến lược ở Trung Bộ và Bắc Bộ.
Ngày 19/12/1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Với tinh thần
“Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”, cuộc chiến đấu ở Thủ đô Hà Nội và các thành
phố, thị xã đã tiêu hao, tiêu diệt và giam chân một lực lượng lớn quân địch,
tạo điều kiện cho cả nước chuyển vào kháng chiến lâu dài.
Ngày 7/10/1947, thực dân Pháp huy động hơn 2 vạn quân tinh nhuệ
có máy bay, tàu chiến hỗ trợ, mở cuộc tiến công lớn lên Việt Bắc, hòng tiêu
diệt cơ quan lãnh đạo kháng chiến và bộ đội chủ lực của ta bằng chiến lược
“Đánh nhanh, thắng nhanh”. Thế nhưng sau hơn hai tháng chiến đấu
(7/10-20/12/1947), quân ta đã liên tiếp phản công tiêu diệt hàng nghìn tên
địch, bắn rơi 18 máy bay, bắn chìm, bắn cháy 50 tàu, ca nô, phá hủy 255 xe cơ
giới, thu hàng nghìn súng các loại, làm nên thắng lợi của chiến dịch Việt Bắc,
phá sản chiến lược “Đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp; bảo toàn và
phát triển bộ đội chủ lực, bảo vệ cơ quan đầu não và căn cứ của cả nước, đưa
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp phát triển sang thời kỳ mới.
c. Cùng toàn dân đánh bại âm mưu “bình định” và “phản công” của
địch (1948-1952)
Sau chiến dịch Việt Bắc, để đánh bại âm mưu “bình định” của
địch, ta chủ trương phát động chiến tranh du kích rộng khắp và thực hiện “đại
đội độc lập, tiểu đoàn tập trung”, vừa đẩy mạnh chiến tranh du kích, vừa học tập
tác chiến, tập trung củng cố xây dựng lực lượng và từng bước tiến lên đánh
những trận phục kích, tập kích lớn hơn, tạo tiền đề của chiến tranh chính quy
sau này. Qua hơn hai năm chiến đấu (1948-1950), quân đội ta đã tiến bộ nhiều về
phương diện tác chiến và xây dựng lực lượng. Cuối năm 1949 đầu năm 1950, trước
tình hình thế giới có nhiều chuyển biến tích cực, có lợi cho cuộc kháng chiến
của quân và dân ta, Đảng ta đã đề ra nhiệm vụ tích cực chuẩn bị lực lượng để
chuyển sang tổng phản công.
Tháng 6/1950, ta mở chiến dịch Biên Giới, tiêu diệt sinh lực
địch, giải phóng một phần biên giới Việt-Trung, mở rộng và củng cố căn cứ địa
Việt Bắc, khai thông đường liên lạc với các nước xã hội chủ nghĩa.
Vừa chiến đấu, vừa xây dựng lực lượng, quân đội ta không ngừng phát
triển và ngày càng lớn mạnh, nhiều đại đoàn chủ lực được thành lập, góp phần
tăng thêm sức chiến đấu của “các quả đấm chủ lực cách mạng” như: Đại đoàn 308,
Đại đoàn 304, 312, 320, 316, Đại đoàn công pháo và Đại đoàn 325.
Đầu tháng 11/1951, Tổng Quân uỷ mở chiến dịch Hoà Bình, làm phá
vỡ phần lớn kết quả “bình định” đồng bằng Bắc Bộ trong cả năm 1951 của
địch.
Tại Trung Bộ và Nam Bộ, sau một thời gian củng cố, bộ đội ta đã
đứng vững trên các địa bàn, cùng du kích chống càn quét và tiến công các căn cứ
địch; góp phần tiêu hao, tiêu diệt, kiềm chế một bộ phận quan trọng lực lượng
quân sự của địch, bồi dưỡng và phát triển lực lượng ta, mở rộng nhiều vùng căn
cứ, đánh bại âm mưu “bình định” của địch.
Đầu tháng 9/1952, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Tây Bắc,
nối thông được vùng giải phóng Tây Bắc với căn cứ địa Việt Bắc và Thượng Lào.
Ta giữ vững thế chủ động tiến công, làm thất bại âm mưu mở rộng chiếm đóng của
địch.
d. Cùng toàn dân giành thắng lợi trong cuộc tiến công chiến lược
Đông - Xuân 1953-1954, đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ
Trước những thay đổi trong cục diện chiến tranh ở Đông Dương và
trên cơ sở đánh giá đúng tương quan so sánh lực lượng giữa ta và địch, tháng
9/1953, ta mở cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954. Với 5 đòn tiến
công chiến lược, quân và dân ta đã tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng
nhiều vùng đất đai rộng lớn, nắm quyền chủ động trên các chiến trường Đông
Dương và làm phá sản âm mưu tập trung lực lượng cơ động của Na-va, buộc chúng
phải căng ra đối phó ở khắp nơi. Kế hoạch Na-va bắt đầu bị phá sản.
Ngày 6/12/1953, ta mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Sau 56 ngày đêm
chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, quân và dân ta đã đập tan toàn bộ tập
đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, giáng đòn quyết định, tạo bước ngoặt lịch sử làm
thay đổi hẳn cục diện chiến tranh giữa ta và địch; trực tiếp đưa đến việc ký
kết Hiệp định Giơ-ne-vơ về “đình chỉ chiến sự ở Việt Nam”, lập lại hòa bình ở
Đông Dương, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp và
can thiệp Mỹ bảo vệ và phát triển thành quả cách mạng tháng Tám. Miền Bắc được
giải phóng, tạo cơ sở và điều kiện vững chắc để quân và dân ta tiến lên giành
thắng lợi vĩ đại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
3. Quân đội nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ
cứu nước (1954 - 1975)
a. Quân đội nhân dân Việt Nam tiến lên chính quy, hiện đại; xây
dựng, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa; giữ gìn, phát triển lực lượng vũ trang
cách mạng ở miền Nam (1954 - 1960)
Để đáp ứng nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới
mà Trung ương Đảng xác định đó là “trụ cột bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình”,
quân đội ta nhanh chóng bước vào xây dựng theo kế hoạch quân sự 5 năm lần thứ
nhất (1955-1960). Nhiệm vụ và phương châm lúc này là: Tích cực xây dựng quân
đội nhân dân hùng mạnh, tiến dần từng bước lên chính quy, hiện đại. Đến năm
1960, quân đội ta đã hoàn thành các nhiệm vụ theo kế hoạch quân sự 5 năm lần
thứ nhất; có bước trưởng thành mới, từ lực lượng chủ yếu là bộ binh với tổ chức
chưa thật thống nhất, vũ khí trang bị còn thiếu thốn đã trở thành quân đội
chính quy, ngày càng hiện đại, gồm các quân chủng: Lục quân, Hải quân, Phòng
không-Không quân. Đồng thời, với việc xây dựng lực lượng, sắp xếp lại tổ chức,
biên chế, tăng cường sức mạnh chiến đấu, quân đội ta đã tích cực tham gia công
tác tiếp quản các thành phố, thị xã và các vùng do quân Pháp chiếm đóng ở miền
Bắc; bảo vệ thành quả xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, tích cực tham gia
lao động sản xuất, góp phần khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh.
Ở miền Nam, tháng 6/1954, Mỹ dựng chính phủ Ngô Đình Diệm và ráo
riết thực hiện chính sách khủng bố tàn bạo, gây ra những tổn thất nặng nề cho
cách mạng miền Nam. Trước tình hình đó, tháng 1/1959, Hội nghị lần thứ 15 Ban
Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) mở rộng đã xác định hai nhiệm vụ chiến lược
của cách mạng Việt Nam và vạch rõ con đường cơ bản của cách mạng miền Nam là sử
dụng bạo lực cách mạng.
Ngày 28/8/1959 nhân dân nhiều xã trong huyện Trà Bồng (Quảng
Ngãi) nổi dậy giành chính quyền. Ngày 17/1/1960, nhân dân các huyện Mỏ Cày,
Minh Tân, Thạnh Phú tỉnh Bến Tre nhất loạt nổi dậy, phá thế kìm kẹp, tạo nên
phong trào “Đồng khởi” lan rộng ra nhiều tỉnh ở Nam Bộ, Khu 5. Từ phong trào
“Đồng khởi”, lực lượng vũ trang và hệ thống chỉ huy quân sự các cấp của ta từng
bước hình thành. Ngày 20/12/1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam
ra đời. Ngày 15/2/1961, Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Quân Giải
phóng miền Nam Việt Nam, bộ phận trực tiếp của Quân đội nhân dân Việt Nam thực
hiện nhiệm vụ chiến đấu ở miền Nam.
b. Đẩy mạnh xây dựng quân đội chính quy, hiện đại, cùng toàn dân
đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ (1961-1965)
Trên hậu phương lớn miền Bắc, quân đội ta đã khẩn trương xây
dựng theo kế hoạch quân sự 5 năm lần thứ hai (1961-1965), nâng cao một bước
quan trọng trình độ chính quy, hiện đại. Nhiệm vụ và phương châm là: Xây dựng
quân đội tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chính quy, hiện đại. Với
phương hướng xây dựng đúng đắn, quyết tâm cao, tổ chức thực hiện tốt, quân đội
ta đã nâng cao một bước rõ rệt sức mạnh chiến đấu. Đồng thời, đã tạo ra những
cơ sở thuận lợi cho việc mở rộng lực lượng, hoàn thành những nhiệm vụ xây dựng
và chiến đấu ngày càng lớn, khẩn trương và phức tạp trong những bước tiếp theo.
Từ năm 1961, để đối phó với phong trào giải phóng dân tộc trên
thế giới và phong trào cách mạng miền Nam, đế quốc Mỹ thực hiện “Chiến tranh
đặc biệt”. Chúng sử dụng quân đội Sài Gòn làm lực lượng chủ yếu; cung cấp vũ
khí, phương tiện kỹ thuật quân sự, tài chính và chỉ huy bằng hệ thống cố vấn
quân sự và dân sự từ trung ương đến các tỉnh, đặc khu, các sư đoàn và tiểu
đoàn; đồng thời, thực hiện ba biện pháp chiến lược cơ bản: Tìm diệt bộ đội chủ
lực và cơ sở cách mạng, bình định để nắm dân, phá hoại miền Bắc bằng biệt kích
và phong tỏa biên giới, vùng biển để ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc. Với
kinh nghiệm đấu tranh, quân và dân miền Nam đã sáng tạo nhiều hình thức tiến
công, đánh 15.525 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 28.966 tên, vùng giải phóng
được giữ vững và mở rộng; chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ đứng trước
nguy cơ bị phá sản.
Nhằm hạn chế những tổn thất và cứu nguy cho thất bại ở chiến
trường miền Nam, sau khi dựng lên sự kiện “Vịnh Bắc Bộ” (8/1964), ngày
5/8/1964, đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và
hải quân lần thứ nhất hòng ngăn chặn sự chi viện của hậu phương miền Bắc cho
tiền tuyến miền Nam. Chúng đánh ồ ạt các khu vực sông Gianh (Quảng Bình), Cửa
Hội (thành phố Vinh), Lạch Trường (Thanh Hoá), Bãi Cháy (Quảng Ninh). Các đơn
vị hải quân, phòng không, dân quân tự vệ đã nâng cao cảnh giác, hiệp đồng chặt
chẽ, mưu trí dũng cảm, chiến đấu ngoan cường, bắn rơi 8 máy bay, bắn bị thương
nhiều chiếc khác, bắt sống nhiều giặc lái Mỹ. Ngày 5/8 trở thành Ngày truyền
thống đánh thắng trận đầu của Bộ đội Hải quân nhân dân Việt Nam.
Tháng 10/1964, các lực lượng vũ trang miền Nam mở đợt hoạt động
Đông- Xuân 1964-1965, tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân chủ lực ngụy, mở
rộng vùng giải phóng. Sau chiến thắng Bình Giã (2/12/1964-3/1/1965), Ba Gia
(5/1965), Đồng Xoài (10/5-22/7/1965), chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ
hoàn toàn bị phá sản, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân
ta bước sang một giai đoạn mới.
c. Cùng toàn dân đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” và
chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất của đế quốc Mỹ (1965-1968)
Trước nguy cơ thất bại hoàn toàn của chiến lược “Chiến tranh đặc
biệt”, từ giữa năm 1965, đế quốc Mỹ chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục
bộ”, đưa lực lượng chiến đấu của Mỹ vào trực tiếp tham chiến trên chiến trường
miền Nam. Hỗ trợ cho nỗ lực quân sự ở miền Nam, Mỹ dùng không quân, hải quân mở
rộng cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc.
Vừa xây dựng, vừa chiến đấu và phát triển lực lượng, bộ đội ta
trên các chiến trường miền Nam đã tổ chức các trận tiến công, bẻ gãy nhiều cuộc
hành quân quy mô lớn của Mỹ - quân đội Sài Gòn, mở ra phong trào “tìm Mỹ mà
diệt”, “nắm thắt lưng Mỹ mà đánh”, đánh bại kế hoạch hai gọng kìm “tìm diệt” và
“bình định” của địch, tạo điều kiện đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
phát triển lên một bước mới, làm thất bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của
Mỹ.
Ở miền Bắc, quân và dân ta đã anh dũng chiến đấu, đánh trả không
quân, hải quân địch, giành những thắng lợi lớn. Trong 4 năm (1964-1968), quân
và dân miền Bắc đã bắn rơi 3.243 máy bay các loại, bắt sống nhiều giặc lái, bắn
chìm và bắn cháy 143 tàu chiến.
Giữa lúc cuộc chiến tranh leo thang của đế quốc Mỹ đến đỉnh cao
nhất, Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định mở cuộc Tổng
tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968) nhằm tạo bước ngoặt lớn, chuyển chiến
tranh cách mạng miền Nam sang thời kỳ mới - thời kỳ giành thắng lợi quyết định.
Chỉ trong một thời gian ngắn, quân và dân ta đã giành chiến thắng. Thắng lợi của
cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Xuân Mậu Thân 1968 trên toàn chiến
trường miền Nam, cùng với việc đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ
nhất của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc đã giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược
của giới cầm quyền Mỹ, làm phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, buộc Mỹ
chấp nhận đàm phán với ta tại Hội nghị Pari.
d. Cùng toàn dân đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”
và cuộc tập kích bằng không quân, hải quân lần thứ hai vào miền Bắc của đế quốc
Mỹ (1969-1972)
Thất bại trên chiến trường miền Nam, từ năm 1969, Mỹ chuyển sang
thi hành “Học thuyết Níchxơn” và chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, đồng
thời tăng cường chiến lược “Chiến tranh đặc biệt tăng cường” ở Lào và
Cam-pu-chia. Quân và dân ta đã phối hợp chặt chẽ với nhân dân Lào và Campuchia
chiến đấu, giành được những thắng lợi to lớn trên chiến trường ba nước Đông
Dương trong Xuân - Hè 1971, tạo ra sự thay đổi quan trọng trong cục diện chiến
tranh. Chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ bị thất bại một bước nghiêm
trọng.
Đầu năm 1972, quân và dân ta mở cuộc tiến công chiến lược trên
toàn miền Nam, làm thay đổi so sánh lực lượng và thay đổi cục diện chiến tranh,
dồn Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn vào thế yếu trầm trọng hơn.
Trước nguy cơ đổ vỡ của quân đội Sài Gòn - xương sống của Chiến
lược “Việt Nam hóa chiến tranh”; Níchxơn buộc phải huy động trở lại lực lượng
quân sự Mỹ vào cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Ngày 6/4/1972, đế quốc Mỹ
huy động một lực lượng lớn không quân và hải quân mở cuộc chiến tranh đánh phá
miền Bắc lần thứ hai, với hai chiến dịch Lai-nơ Bếch-cơ 1 (6/4/1972) và Lai-nơ
Bếch-cơ 2 (đêm ngày 18/12/1972).
Với tinh thần dũng cảm, bằng cách đánh mưu trí, linh hoạt, quân
và dân miền Bắc đã đánh thắng cuộc tập kích chiến lược lần thứ hai bằng B52 của
Mỹ, lập nên trận “Điện Biên Phủ trên không” tại bầu trời Hà Nội.
Thắng lợi to lớn của quân và dân hai miền Bắc và Nam, buộc đế
quốc Mỹ phải ký Hiệp định Pari về “chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở
Việt Nam” (27/1/1973), cam kết tôn trọng độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh
thổ của Việt Nam, chấm dứt dính líu về quân sự, rút hết quân Mỹ và quân chư hầu
ra khỏi miền Nam.
e. Cùng toàn dân tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa
Xuân năm 1975 với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc thắng
lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1973-1975)
Hiệp định Pari được ký kết, nhưng với bản chất ngoan cố, đế quốc
Mỹ chưa chịu từ bỏ âm mưu duy trì chế độ thực dân mới, chia cắt lâu dài đất
nước ta. Trong quá trình rút quân, đế quốc Mỹ vẫn để lại nhiều sĩ quan
mặc áo dân sự và giao lại cho quân đội Sài Gòn toàn bộ cơ sở vật chất, vũ khí,
phương tiện chiến tranh. Dựa vào viện trợ của Mỹ, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu
ra sức củng cố ngụy quân, ngụy quyền, liên tiếp mở các cuộc hành quân “tràn
ngập lãnh thổ”, lấn chiếm vùng giải phóng của ta.
Nắm được âm mưu của địch, Hội nghị Bộ Chính trị tháng 10/1974 và
đầu năm 1975 đã kịp thời đánh giá đúng so sánh lực lượng giữa ta và địch trong
tình hình mới, chỉ rõ sự xuất hiện thời cơ lịch sử và nêu quyết tâm chiến lược,
giải phóng miền Nam, đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh thực dân mới của Mỹ
bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975.
Ngày 4/3/1975, bộ đội ta mở chiến dịch Tây Nguyên - mở đầu cuộc
Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Ngày 10 và 11/3/1975, quân ta tiến
công, giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột. Tiếp đó, từ ngày 14/3 đến ngày
3/4/1975, quân ta tiến công, giải phóng hoàn toàn tỉnh Kon Tum, Gia Lai và toàn
bộ Tây Nguyên. Ngày 5/3/1975, quân ta mở chiến dịch Trị - Thiên - Huế, giải
phóng tỉnh Quảng Trị (19/3); từ ngày 21-25/3/1975, quân ta tiến công, giải
phóng thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên, tiêu diệt và làm tan dã toàn bộ quân
địch trên chiến trường Trị -Thiên.
Từ ngày 26- 9/3/1975, quân ta mở chiến dịch giải phóng Đà Nẵng,
bán đảo Sơn Trà và thị xã Hội An (29/3), làm thay đổi hẳn cục diện và so sánh
thế trận lực lượng ngày càng có lợi cho ta. Ngày 1/4/1975, giải phóng Bình
Định, Phú Yên. Ngày 3/4/1975, giải phóng Khánh Hoà nối liền vùng giải phóng từ
Tây Nguyên, Trị Thiên và các tỉnh Trung Bộ.
Trên cơ sở những thắng lợi quyết định, ngày 14/4/1975, Bộ Chính
trị quyết định mở chiến dịch Hồ Chí Minh nhằm giải phóng Sài Gòn và toàn miền
Nam. Thực hiện tư tưởng chỉ đạo: “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”, ngày
26/4/1975, quân ta bắt đầu nổ súng tiến công đồng loạt vào các mục tiêu, phá vỡ
tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch. Ngày 29/4/1975, quân ta tiến công tiêu
diệt và làm tan rã các sư đoàn chủ lực số 5, 7, 25, 18 và 22 của quân đội Sài
Gòn. Các binh đoàn thọc sâu tiến vào cách trung tâm thành phố Sài Gòn từ 10 đến
20 km. Đại sứ Mỹ và các nhân viên quân sự, binh lính cuối cùng của Mỹ lên máy
bay trực thăng rút khỏi Sài Gòn (sáng 30/4). 5 giờ sáng ngày 30/4/1975, quân ta
mở đợt tiến công cuối cùng. Vào lúc 10 giờ 45 phút, phân đội xe tăng thọc sâu
của Quân đoàn 2 tiến vào dinh Độc Lập. Quân ta bắt toàn bộ nội các của chính
quyền Sài Gòn, buộc Tổng thống Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng không điều
kiện. Cờ Tổ quốc tung bay trước tòa nhà chính của dinh Độc Lập lúc 11 giờ 30
phút. Trong 2 ngày 30 tháng 4 và ngày 1 tháng 5, bộ đội chủ lực và lực lượng vũ
trang các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, các Quân khu 8 và 9 nắm thời cơ,
phát động quần chúng nổi dậy, tiêu diệt và làm tan rã hàng ngũ địch, giải phóng
hoàn toàn các tỉnh đồng bằng Nam Bộ, vùng biển và các đảo ở Tây Nam của Tổ
quốc. Hơn một triệu quân đội Sài Gòn và cả bộ máy chính quyền địch bị đập tan,
chế độ thực dân mới được Mỹ dốc sức xây dựng trong hơn 20 năm với 5 đời tổng
thống đã hoàn toàn sụp đổ. Chiến dịch Hồ Chí Minh đã toàn thắng, miền Nam hoàn
toàn giải phóng. Chiến dịch Hồ Chí Minh là chiến dịch hiệp đồng quân, binh chủng
quy mô lớn nhất, giành thắng lợi to lớn nhất, đánh dấu bước trưởng thành vượt
bậc của Quân đội nhân dân Việt Nam cả về tổ chức lực lượng và trình độ chỉ huy
tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng; là đỉnh cao của nghệ thuật quân sự Việt
Nam, góp phần quyết định kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
4. Quân đội nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (1975 - 2014)
a. Khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định đời sống nhân dân, đưa
sự nghiệp cách mạng tiến lên trong giai đoạn mới
Trong giai đoạn cách mạng mới của đất nước, nhiệm vụ của quân
đội được Trung ương Đảng nêu rõ: “Ra sức bảo vệ sự nghiệp cách mạng xã hội chủ
nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta,... bảo vệ độc lập chủ quyền
và toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển, biên giới và hải đảo của nước Việt
Nam thống nhất”. Đồng thời “tích cực tham gia sản xuất, góp phần xây dựng cơ sở
vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội”. Để thực hiện nhiệm vụ của Đảng trong
giai đoạn cách mạng mới, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đề ra phương
hướng, nhiệm vụ xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng trong 5 năm
(1976-1981).
Thực hiện phương hướng, nhiệm vụ do Quân ủy Trung ương và Bộ
Quốc phòng đề ra, trong những năm 1975-1977, quân đội ta thực hiện điều chỉnh
một bước về quân số, tổ chức biên chế vừa đẩy mạnh huấn luyện, xây dựng chính
quy phù hợp với tình hình mới, vừa tham gia xây dựng đất nước. Các đơn vị quân
đội đứng chân trên các vùng mới được giải phóng đã phối hợp với Ủy ban quân
quản các cấp, khẩn trương xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng cơ sở, xây
dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang địa phương; tổ chức cải tạo binh
lính cảnh sát của bộ máy chính quyền cũ, trấn áp các phần tử và tổ chức phản
động; truy quét tàn quân địch và FULRO; tích cực tham gia cải tạo tư sản công
thương nghiệp, địa chủ, bài trừ các tệ nạn xã hội; thu hồi quản lý cơ sở vật
chất kỹ thuật quân sự của địch, xử lý chất độc hóa học, rà phá bom mìn, góp
phần ổn định đời sống nhân dân. Trong xây dựng kinh tế, toàn quân đã bố trí
256.000 cán bộ, chiến sĩ chuyển sang làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế lâu dài. Nêu
cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, cán bộ, chiến sỹ trong quân đội đã khắc phục
khó khăn, gian khổ, tham gia xây dựng tuyến đường sắt Bắc-Nam; khai hoang xây
dựng các vùng kinh tế nông nghiệp, lâm nghiệp, phát triển các nông trường, lâm
trường quốc doanh trên các vùng Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Tây
Nam Bộ…; xây dựng các công trình thủy lợi; khai thác và chế biến hải sản, xây
dựng cơ bản, sản xuất vật liệu xây dựng và các mặt hàng dân dụng.
b. Cùng toàn dân đánh thắng hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc
ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế ở
Campuchia
Tháng 4/1977, tập đoàn Pôn Pốt - Iêngxari phát động cuộc chiến
tranh xâm lược vùng biên giới Tây Nam. Mùa khô năm 1978, chúng đã huy động 19
trong tổng số 20 sư đoàn bộ binh mở cuộc tiến công trên toàn tuyến biên giới,
gây ra nhiều cuộc thảm sát man rợ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, ngày 23/12/1978,
quân và dân ta trên toàn tuyến biên giới Tây Nam đã tiến hành mở cuộc phản công
chiến lược và đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của tập đoàn phản động Pôn Pốt
- Iêngxari, đuổi chúng về bên kia biên giới.
Với sự giúp đỡ to lớn của Quân tình nguyện Việt Nam, ngày
7/1/1979, các lực lượng vũ trang cách mạng và quân dân Campuchia đã đánh đổ chế
độ diệt chủng Pôn Pốt - Iêngxari, hồi sinh, tái thiết đất nước.
Ở biên giới phía Bắc, ngày 17/2/1979, Trung Quốc đã huy động 60
vạn quân tiến công trên toàn tuyến biên giới 6 tỉnh phía Bắc nước ta. Các lực
lượng vũ trang địa phương, dân quân tự vệ đã phối hợp với một bộ phận bộ đội
chủ lực cùng đồng bào các dân tộc vùng biên giới anh dũng chiến đấu, bảo vệ
vững chắc từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, buộc Trung Quốc phải rút hết
quân vào ngày 16 tháng 3 năm 1979.
c. Quân đội ta đẩy mạnh huấn luyện, xây dựng nền nếp chính quy,
tham gia phát triển kinh tế - xã hội
Trong những năm 1980-1986, quân đội ta đã đẩy mạnh công tác huấn
luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng nền nếp chính quy. Công tác huấn luyện được
tiến hành cơ bản, toàn diện. Hoạt động công tác đảng, công tác chính trị từng
bước được đổi mới cả về nội dung, hình thức, phương pháp tiến hành. Thực hiện
Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng, từ năm 1979, quân đội ta đã triển khai
thực hiện cuộc vận động “Phát huy bản chất tốt đẹp, nâng cao sức mạnh chiến
đấu”. Cuộc vận động đã góp phần tạo nên chất lượng mới, sức chiến đấu mới của
các lực lượng vũ trang nhân dân.
Trên mặt trận kinh tế, thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ V
của Đảng về việc “tổ chức cho các đơn vị bộ đội có điều kiện tiến hành sản xuất
để tự cung ứng một phần nhu cầu, huy động năng lực các xí nghiệp quốc phòng và
sử dụng hợp lý lực lượng quân đội vào những hoạt động kinh tế thích hợp”, cùng
với toàn dân, các đơn vị quân đội đã tích cực tham gia xây dựng kinh tế góp
phần quan trọng hoàn thành nhiều công trình trọng điểm.
d. Quân đội nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc
Quân đội nhân dân Việt Nam đã có những đóng góp xứng đáng vào
những thành tựu chung của đất nước trong gần 30 năm đổi mới, nhất là từ năm
2005 đến nay. Đó là, quân đội đã nắm chắc và dự báo đúng tình hình liên quan
đến quốc phòng - an ninh; chủ động tham mưu, đề xuất với Đảng và Nhà nước hoạch
định đường lối, chủ trương, chính sách; ra Nghị quyết về Chiến lược bảo vệ Tổ
quốc trong tình hình mới. Đã tham mưu với Đảng và Nhà nước đề ra đối sách phù
hợp, xử lý linh hoạt, đúng đắn các tình huống phức tạp, các vấn đề nhạy cảm về
quốc phòng - an ninh, trong quan hệ đối nội và đối ngoại, không để đất nước bị
động, bất ngờ về chiến lược, đồng thời không để cho các thế lực thù địch lợi
dụng, chống phá; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và
quan hệ tốt với các nước láng giềng; bảo đảm sự ổn định chính trị-xã hội, tạo
môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững.
Trong thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, quân đội đã thường
xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, duy trì và thực hiện tốt công tác
sẵn sàng chiến đấu ở tất cả các cấp; tỉnh táo, chủ động và kiên quyết đấu tranh
phòng chống chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, kịp thời phát
hiện, ngăn chặn và làm thất bại mọi âm mưu, hành động phá hoại của các thế lực
thù địch, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và thành quả cách mạng của nhân dân. Trong
thực hiện nhiệm vụ lao động sản xuất, xây dựng kinh tế, quân đội đã đạt được
những thành tựu mới trên tất cả các lĩnh vực. Trong công tác dân vận, quân đội
đã góp phần tích cực trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện thắng
lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tham
gia xây dựng hệ thống chính trị, tăng cường quốc phòng-an ninh, phát triển kinh
tế-xã hội; tích cực giúp dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới; phòng
tránh, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn. Trong
công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế, quân đội đã triển khai đẩy mạnh toàn
diện, đồng bộ và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng.
5. Truyền thống chiến đấu và chiến thắng vẻ vang của Quân đội
nhân dân Việt Nam
Trải qua 70 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, cùng với
những chiến công mãi mãi ghi vào lịch sử dân tộc như những biểu tượng sáng ngời
về một quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, phục vụ, quân đội
ta đã xây đắp nên những truyền thống cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”. Đó là:
Trung thành vô hạn với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, với
Đảng, Nhà nước và nhân dân; quyết chiến, quyết thắng, biết đánh và biết thắng;
gắn bó máu thịt với nhân dân, quân với dân một ý chí; đoàn kết nội bộ, cán bộ,
chiến sĩ bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, thương yêu giúp đỡ nhau, trên dưới
đồng lòng thống nhất ý chí và hành động; kỷ luật tự giác, nghiêm minh; độc lập
tự chủ, tự lực, tự cường, cần kiệm xây dựng quân đội, xây dựng đất nước, tôn trọng
và bảo vệ của công; lối sống trong sạch, lành mạnh, có văn hóa, trung thực,
khiêm tốn, giản dị, lạc quan; luôn luôn nêu cao tinh thần ham học, cầu tiến bộ,
nhạy cảm, tinh tế trong cuộc sống; đoàn kết quốc tế trong sáng, thủy chung, chí
nghĩa, chí tình.
6. Cùng với sự lớn mạnh
của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, lực lượng vũ trang Thành phố sớm ra
đời, chiến đấu, trưởng thành, đã lập nên những chiến công hào hùng
Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm lực lượng vũ
trang ở Nam Bộ. Cuối năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh cử phái viên quân sự vào
Nam Bộ. Ngày 20 tháng 11 năm 1945, hội nghị thống nhất chỉ huy, thống nhất các
lực lượng vũ trang ở Nam Bộ lấy tên là Giải phóng quân. Đây là hội nghị đánh
dấu về danh nghĩa việc thống nhất lực lượng và chỉ huy các lực lượng vũ trang ở
Nam Bộ.
Cuối năm 1947 và những tháng đầu năm 1948 là thời kỳ phát triển
mạnh nhất của lực lượng vũ trang ở Nam Bộ nói chung và Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia
Định nói riêng trong kháng chiến chống thực dân Pháp cả về số lượng và hiệu
suất hoạt động, quân ta đã chủ động tấn công, tiêu diệt hàng tram tên địch, thi
nhiều vũ khí, quân trang, nhu yếu phẩm, … Nổi bật là trận Láng Le, quân ta tiêu
diệt hơn 300 tên, thu 85 súng và nhiều chiến lợi phẩm khác, được đánh giá là
trận chống càn kiểu mẫu cấp trung đoàn ngay trên địa bàn ven Sài Gòn lúc bấy
giờ. Năm 1949 là đỉnh cao về phát triển lực lượng, đặc biệt là lực lượng tại
chỗ và toàn bộ lực lượng vũ trang khu Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định, nổi bật là
các hoạt động đánh phá hậu phương quân địch, chống càn bảo vệ căn cứ và giữ thế
tranh chấp vùng du kích ven đô.
Với vị trí địa lý đặc biệt, thành phố Sài Gòn đã trở thành một
đô thị hàng đầu của đất nước, đồng thời là một thủ phủ của thực dân Pháp. Nhiệm
vụ lịch sử của lực lượng vũ trang cách mạng Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định trong
chiến tranh xâm lược là trực tiếp uy hiếp và tiến công sào huyệt địch, hỗ trợ
phong trào đấu tranh của nhân dân đô thị đồng thời tạo ra những đòn đánh hiểm,
góp phần qaun trọng cho thắng lợi của cuộc kháng chiến. Nhiệm vụ nặng nề, lực
lượng vũ trang đã khởi đầu mọi mặt, xây dựng từ không đến có, từ rời rạc, phân
tán đến thống nhất. Từ gậy tầm vông và ý chí “Độc lập hay là chết” đối đầu một
đội quân viễn chinh xâm lược nhà nghề, từng ngày đối mặt với quân thù, lực lượng
đó đã vượt qua những thử thách khắc nghiệt nhất, là một trong những bộ phận
chịu nhiều gian khổ, hy sinh nhất để lớn lên trở thành một phần của quân đội
nhân dân, tương xứng và đã hoàn thành nhiệm vụ chính trị mà lịch sử đã giao
phó.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ đầy hy sinh thử thách, lực lượng
vũ trang Nhân dân Thành phố đã kế thừa được nhiều kinh nghiệm quý báu, vừa
chiến đấu vừa xây dựng, phát triển lực lượng lớn mạnh không ngừng, chứng tỏ
được khả năng và trình độ chiến đấu cao. Phát triển mạnh mẽ, sáng tạo nghệ
thuật chiến tranh nhân dân, dựa hẳn vào sức mạnh của giai cấp công nhân và nhân
dân lao động, lực lượng vũ trang thành phố đã vượt qua nhiều khó khan, gian
khổ, ác liệt, phát huy được sức mạnh tổng hợp, hoàn thành nhiệm vụ một cách
xuất sắc. Ngoài thành ti1chxa6y dựng và chiến đấu, lực lượng vũ trang thành phố
đã góp phần phát động và xây dựng phong trào chiến tranh nhân dân trên vành đai
xung quanh Sài Gòn: Xây dựng căn cứ địa, xây dựng xã ấp chiến đấu, thiết lập hệ
thống địa đạo, làng ngầm trong lòng đất, sưu tầm vũ khí địch để tái tạo đánh
lại địch … Những phong trào này xuất hiện trên khắp chiến trường nông thôn ven
đô, ngoại thành rất sôi nổi và phong phú. Tinh thần tự giác tích cực của quần
chúng đã tạo nên sức mạnh tổng hợp của cuộc chiến tranh nhân dân, góp phần rất
lớn vào việc bám trụ, giữ vững căn cứ, vùng giải phóng và phát triển thế trận
tiến công địch thường xuyên, liên tục, giành thắng lợi, hỗ trợ đắc lực cho
phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị và chống phá bình định ở nông thôn.
Sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng (30 tháng 4 năm
1975), quân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã góp phần tích cực vào sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ tổ quốc, cũng như làm nghĩa vụ quốc tế ở Cam-pu-chia. Mười năm
phấn đấu chịu nhiều đau khổ, hy sinh, lực lượng vũ trang và Nhân dân Thành phố
đã hoàn thành nhiệm vụ giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự an toàn xã
hội trên một địa bàn trọng điểm của chiến lược “Diễn biến hòa bình – Bạo loạn
lật đổ” của các thế lực thù địch, góp phần bảo vệ vững chắc tổ quốc và công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; thực hiện nghĩa vụ quốc tế trên đất bạn
Cam-pu-chia, giúp bạn bảo vệ thành quả cách mạng và xay dựng lại đất nước sau
thảm họa cuộc diệt chủng, qua đó góp phần vun đắp tình hữu nghị truyền thống
giữa nhân dân và lực lượng vũ trang hai nước Việt Nam - Cam-pu-chia.
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, trước những diễn biến phức
tạp, đặc biệt là sự tan rã của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu
đặt ra mục tiêu cấp bách và lâu dài của Thành phố là: Xây dựng Thành phố vững
về chính trị, giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng, an ninh, sẵn sang đập tan âm
mưu “Diễn biến hòa bình – Bạo loạn lật đổ” và thắng địch trong chiến tranh
chống xâm lược, đồng thời tập trung nhân tài vật lực phục vụ cho nhiệm vụ chiến
đấu bảo vệ Tổ quốc.
Hàng năm, Thành phố đều tiên hành tổ chức các đợt diễn tập xây
dựng khu vực phòng thủ với việc quán triệt nhiệm vụ và tập huấn cho cán bộ
Đảng, chính quyền, đoàn thể, ban ngành; xây dựng hệ thống văn kiện; thực hành
cụ thể từ cấp thành phố đến quận, huyện, phường, xã.
Trong công tác động viên, lục lượng vũ trang Thành phố tự khẳng
định khả năng đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ động viên quân đội cả về số lượng,
chất lượng và thời gian, đảm bảo về tổ chức biên chế, huấn luyện và sẵn sàng
chiến đấu; tham gia hoạt động bảo vệ an ninh chính trị - trật tự an toàn xã
hội.
Với quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, lực lượng vũ
trang thành phố Hồ Chí Minh đã nêu cao tinh thần “Trung thành vô hạn, bám trụ
kiên cường, đoàn kết kỷ cương, năng động sáng tạo, quyết chiến quyết thắng”;
góp phần tô thắm truyền thống anh hung của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
II. HAI MƯƠI LĂM
NĂM THỰC HIỆN NGÀY HỘI QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN (22/12/1989 - 22/12/2014)
Quốc phòng Việt Nam là nền quốc phòng toàn dân, bao gồm tổng thể
các hoạt động về chính trị, kinh tế, ngoại giao, quân sự, văn hoá, khoa học…
của Nhà nước và nhân dân để tạo nên sức mạnh toàn diện, cân đối, đồng bộ, trong
đó sức mạnh quân sự là đặc trưng, lực lượng vũ trang là nòng cốt, nhằm giữ vững
hoà bình, ổn định đất nước, ngăn chặn các hoạt động phá hoại, gây chiến, đẩy
lùi nguy cơ chiến tranh, đồng thời sẵn sàng đánh bại chiến tranh xâm lược dưới
mọi hình thức và quy mô. Nền quốc phòng toàn dân là sự cụ thể hoá chính sách
quốc phòng của Việt Nam, thể hiện ở cơ cấu tổ chức, hoạt động của các ngành,
các cấp và của toàn dân theo một ý định, chiến lược thống nhất, nhằm tạo ra sức
mạnh hiện thực để bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân là xây dựng
cả lực lượng và thế trận; xây dựng tiềm lực mọi mặt, đặc biệt là tiềm lực chính
trị - tinh thần; phát huy sức mạnh tổng hợp về chính trị, tư tưởng, kinh tế, xã
hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, sức mạnh của khối đại đoàn kết
toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Ngày 17 tháng 10 năm 1989, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VI)
đã ra Chỉ thị số 381-CT/TƯ quyết định lấy Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt
Nam (22/12) đồng thời là Ngày hội Quốc phòng toàn dân - Ngày hội của truyền
thống bảo vệ Tổ quốc, Ngày hội tôn vinh và nhân lên hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ
Hồ” - một nét độc đáo của văn hóa dân tộc Việt Nam trong thời đại mới. Ngày hội
Quốc phòng toàn dân cũng là dịp để phát huy truyền thống yêu nước, biểu dương
sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn
quân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa.
Hai mươi lăm năm thực hiện Ngày hội Quốc phòng toàn dân, chúng
ta đã đạt được những thành tựu quan trọng sau đây:
Một là, nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc của toàn
xã hội và sức mạnh tổng hợp của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân.
Hai là, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và
định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm môi trường ổn định, hòa bình và an ninh
cho sự phát triển đất nước; làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế
lực thù địch, góp phần quan trọng vào quá trình đổi mới đất nước, nâng cao vị
thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Ba là, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc được tăng cường, tăng thêm khả năng
ngăn chặn và loại trừ nguy cơ chiến tranh và khả năng đối phó thắng lợi các
tình huống chiến tranh và các tình huống xâm phạm an ninh quốc gia, nếu xảy ra.
Bốn là, hình thành thế chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa trong điều kiện mới. Thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân
dân bảo vệ Tổ quốc được triển khai rộng khắp, chặt chẽ và liên hoàn; “thế trận
lòng dân” được củng cố vững chắc.
Năm là, lực lượng vũ trang mà nòng cốt là Quân đội nhân dân có chất
lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu ngày càng cao, phát huy được vai trò trong
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
III. PHÁT HUY
TRUYỀN THỐNG ANH HÙNG, ĐẨY MẠNH XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN, XÂY DỰNG QUÂN
ĐỘI NHÂN DÂN CÁCH MẠNG, CHÍNH QUY, TINH NHUỆ, TỪNG BƯỚC HIỆN ĐẠI ĐÁP ỨNG YÊU
CẦU, NHIỆM VỤ BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG TÌNH HÌNH MỚI
Trong những năm tới, tình hình thế giới và khu vực bên cạnh xu
thế hòa bình, hợp tác và phát triển thì tiếp tục có những diễn biến phức tạp,
khó lường. Do vậy, bên cạnh thời cơ, thuận lợi thì cũng còn nhiều khó khăn,
thách thức đối với sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Là
lực lượng nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc, quân
đội ta phải tỏ rõ bản lĩnh chính trị vững vàng, ra sức phát huy nội lực, vượt
qua mọi khó khăn, thử thách, củng cố quốc phòng; tiếp tục xây dựng quân đội
nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có số lượng hợp
lý, với chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
trong giai đoạn mới. Cụ thể là:
1. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh
Để xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh trong giai đoạn
mới cần nhận thức đúng và thực hiện tốt những định hướng về xây dựng nền quốc
phòng toàn dân theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về Chiến lược
bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tập trung xây dựng Đảng trong sạch, vững
mạnh, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân và
vì dân, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về “Một số vấn
đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” gắn với thực hiện hiệu quả Chỉ thị
03-CT/TW của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo
tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; thực hiện phương châm đi sâu, đi sát cơ sở,
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội và nhân dân. Xây dựng “thế
trận lòng dân” của nền quốc phòng toàn dân trong tình hình mới. Tăng cường tiềm
lực chính trị, tư tưởng đáp ứng yêu cầu xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo
vệ Tổ quốc trong điều kiện nước ta tập trung mọi nguồn lực cho xây dựng và phát
triển kinh tế - xã hội.
2. Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy,
tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới
Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của hệ thống chính trị đối với
nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam. Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối,
trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Tiếp tục bổ
sung, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo và quản lý nhằm vừa tăng cường sự lãnh đạo
tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng; vừa bảo đảm sự quản lý tập trung
thống nhất của Nhà nước đối với quân đội và xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam
cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng hệ thống cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy các cấp
trong quân đội trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống. Đấu tranh ngăn chặn, đẩy
lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ
phận cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng giáo
dục chính trị cho cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân. Xây dựng đội ngũ cán bộ
quân đội có bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng, có đạo đức, lối sống tốt,
có năng lực trí tuệ và hoạt động thực tiễn, có quan hệ chặt chẽ với nhân dân.
Tiếp tục đổi mới, bổ sung, hoàn thiện chế độ, chính sách quân đội và hậu phương
quân đội.
Trải qua 70 năm chiến đấu, xây dựng, chiến thắng và trưởng
thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, quân đội ta đã
phấn đấu liên tục, không ngừng giữ vững và phát huy bản chất cách mạng của “Bộ
đội Cụ Hồ”.
Kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 25
năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân là dịp để chúng ta ôn lại lịch sử vẻ vang của
dân tộc và những chiến công oanh liệt của quân và dân ta; khơi dậy niềm tự hào
dân tộc, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ý chí tự lực, tự cường vượt qua mọi khó
khăn, thử thách; ra sức xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng
Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại,
là lực lượng chính trị tin cậy, đội quân chiến đấu trung thành của Đảng, Nhà
nước và nhân dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới của cách mạng, góp
phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ
vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
BAN
TUYÊN GIÁO THÀNH ỦY